SƠ LƯỢC LỊCH SỬ HÌNH THÀNH TRƯỜNG

 

     60 năm, đời người trải qua nhiều biến đổi: SINH – LÃO – BỆNH – TỬ.
     60 năm, trường học được hình thành, thay đổi, phát triển và mãi tiếp tục phát triển.
     60 năm “CHUNG MỘT MÁI TRƯỜNG” biết bao thế hệ đã đến rồi tung cánh muôn phương, mong tìm về trường cũ, dù trong chốc lát nhưng ấm cả tình người.

     Trường Collège de Nha Trang  trường Trung học Nha Trang  trường Trung học Võ Tánh, trường cấp III số 2 Nha Trang  trường THPT Lý Tự Trọng cũng nằm trong qui luật biến đổi theo hướng trường tồn ấy.

     Viết lịch sử 60 năm của đời người đã là khó. Viết lịch sử hình thành và phát triển của một trường học lớn lại càng khó hơn. Chắc chắn chỉ có thiếu chứ không thể nào thừa. Người viết xin mạnh dạng giới thiệu những nét cơ bản nhất của trường trong 60 năm qua trên 4 lãnh vực:

  • Mốc thời gian hình thành, xây dựng, phát triển để những người kế tục có cơ sở để nhớ về nguồn cội.
  • Tên trường, quý thầy Hiệu trưởng qua các thời kỳ để các thế hệ ghi nhớ công lao của họ, tất cả cùng một mái trường.
  • Sự phát triển cơ sở vật chất nhà trường để những người kế tục và thừa hưởng có kế hoạch và ý thức bảo dưỡng và phát triển lớn hơn, đẹp hơn và hiện đại hơn.
  • Sự đóng góp của cha mẹ học sinh: một trong những mặt xã hội hóa giáo dục, truyền thống của nhà trường.

     Cách đây 63 năm, một trường trung học đã được hình thành trên thành phố biển Nha Trang thân thương. Trải qua nhiều giai đoạn lịch sử kinh qua nhiều chế độ chính trị khác nhau, trường đã bốn lần đổi tên với năm danh xưng khác nhau, tồn tại và phát triển trên 2 địa điểm khác nhau, kinh qua 13 thầy hiệu trưởng điều hành. Trường liên tục được hình thành, xây dựng, tu sửa và phát triển về quy mô, chất lượng, cơ sở vật chất và vươn lên trong chất lượng đào tạo các thế hệ học sinh.

     Nhớ lại cội nguồn, ghi ơn quý thầy cô chẳng phải là truyền thống “uống nước nhớ nguồn”, “tôn sư trọng đạo”? Ghi nhận những công lao to lớn của phụ huynh học sinh trong việc xây dựng, tu sửa nhà trường, chăm chút việc học hành của con em đó chẳng phải là nét đẹp văn hóa và truyền thống hiếu đạo đáng trân trọng hay sao?

     Với những suy nghĩ đó xin ghi lại dù cho có thiếu sót, có sai nhưng mong quý thầy cô, học sinh qua các thế hệ và quý vị phụ huynh sổ sung hoàn thiện hơn.

 

 

 


1. GIAI ĐOẠN 1947 - 1952:
 1947: 
 Trường trung học đầu tiên được thành lập.
 Trường có tên “ COLLÈGE DE NHA TRANG”
 Chỉ có một lớp duy nhất ( Première Année: lớp 6 ngày nay) gồm 30 học sinh
 Học chương trình Pháp - Việt
 Học nhờ ở trường nam Tiểu học ( trường Nguyễn Văn Trỗi ngày nay)

 1949:
 Công sứ Pháp và Ty Địa chính Khánh Hòa đã dành khu đất đẹp và để chuẩn bị xây dựng trường mới.
( Ngày nay là giới hạn của 4 đường: Lý Tự Trọng, Hoàng Hoa Thám, Đinh Tiên Hoàng, Nguyễn Chánh )

 1950 – 1951:
 Mở lớp Quatrième Année ( lớp 9 ngày nay )
 Trường Trung Học đệ I cấp hoàn chỉnh ( Cấp II ngày nay )
 Năm đầu tiên thi bằng “ Trung Học đệ I cấp” ( Phổ Thông Cơ sở ngày nay)
 Học chương trình Việt. Tiếng Pháp chuyên ngữ

 1950:
 Lần đầu tiên có tên trường Việt Nam
 Trường có tên “ TRƯỜNG TRUNG HỌC NHA TRANG”
 Bảng tên trường bằng gỗ, sơn đen, chữ trắng. 
Treo ở đầu hồi dãy bên phải nhìn vào ở trường nam Tiểu học

 1951 – 1952:
 Tỉnh trưởng Khánh Hòa – Ông Trần Thúc Linh đã dùng ngân quỹ đại phương để xây dựng trường mới.

TÓM LẠI: Giai đoạn 1947 – 1952
 Chưa có cơ sở độc lập.
 Tên trường là Collège de Nha Trang hoặc Trường Trung học Nha Trang
 Hiệu trưởng là thầy Trương Văn Như - người có công lớn đầu tiên trong việc hình thành trường.

2. GIAI ĐOẠN 1952 - 1975: TRƯỜNG TRUNG HỌC VÕ TÁNH:

A. MỐC THỜI GIAN

 1952:
 Thầy LÊ TÁ được Nha Học Chánh cử về làm Hiệu trưởng thế 
thầy TRƯƠNG VĂN NHƯ
 Khánh thành trường mới: dãy lầu 2 tầng, 8 phòng 
(4 phòng trệt, 4 phòng lầu)

 


Vị trí ngày nay: P26, P25, P24, P23 – P1, P2, P3, P4
 Đổi tên thành TRƯỜNG TRUNG HỌC VÕ TÁNH
( Có lẽ sau khi khánh thành, đem bảng tên trường cũ gắn ở trước cầu thang dãy 8 phòng. Mãi đến 1954 mới có bảng tên trường mới: 
Trung Học Võ Tánh)

 1952  1953: 
 Năm học đầu tiên tại vị trí mới

 1954:
 Tỉnh trưởng Khánh Hòa Nguyễn Trân cấp ngân khoảng địa phương xây dựng nối tiếp dãy lầu dài 50m.
( Tầng trệt: khoảng P.22, P. Y tế, Hành lang, P. Giám Thị, P.21, P.20, P.19 Tầng lầu: từ P.5  P.10 ngày nay )
 Phụ huynh học sinh và các mạnh thường quân: tặng bàn ghế và xây nhà Hiệu trưởng, nhà giáo viên (dọc đường Hoàng Hoa Thám ngày nay)
 Năm đầu tiên có bảng tên Trường TRUNG HỌC VÕ TÁNH
+ Chữ xi măng ở hành lang.
+ Bảng treo ở cổng

 1957:
 Được Bộ nâng lên trường TRUNG HỌC ĐỆ II CẤP 
(trường cấp III ngày nay)

 1968 – 1969:
 Từ quỹ Hội phụ huynh hổ trợ xây dựng:
 Hội trường, thư viện (vị trí hòn non bộ hiện nay), văn phòng, phòng giám thị, phòng giám học.
 Dãy nhà chơi nối liền dãy 6 phòng trệt ( từ dãy cũ đến trước nhà Đa Năng ngày nay)

 1972:
 Hội Phụ huynh vận động xây dựng Hội trường phụ huynh ( dãy 4 nhà giáo viên đường Nguyễn Chánh ngay nay); cổng sắt cửa chính trên đó mang chữ P, H, H, S, V, T.

 1972 – 1973:
 Tiếp tục xây dựng và hoàn tất dãy lầu 2 tầng ( dọc đường Lý Tự Trọng ngày nay)
( Hoàn thành 1 trong 5 dãy lầu theo sơ đồ ban đầu của trường)
 Xây dựng nhà để xe học sinh; 6 sân bóng rỗ, bóng chuyền, hố nhảy 
( Sau 1975 Sở lấy làm xưởng thiết bị dọc đường Đinh Tiên Hoàng)
 Đơn vị quân đội Hàn Quốc hổ trợ xây dựng sân bóng đá.
 Phòng thí nghiệm mới ( dọc tường của kho bạc ngày nay)


 1974 – 1975:
 Xây dựng 2 phòng học ( trước 1975 gọi P.23, 24 là Ốc Đảo): mở đầu dãy lầu 2 tầng thứ hai theo sơ đồ kiến trúc, có 3 dãy dọc, 2 dãy ngang)

 

 

 

B. QUÝ THẦY HIỆU TRƯỞNG:

Trường Trung Học Võ Tánh ( 1952  1975) dưới sự lãnh đạo của 6 thầy Hiệu trưởng

1. Thầy LÊ TÁ : 1952 - 1955
2. Thầy NGUYỄN VỸ : 1955 - 1956 
3. Thầy LÊ KHẮC NGUYỆN : 1956 - 1959
4. Thầy LÊ NGUYÊN DIỆM : 1959 - 1972
5. Thầy NGUYỄN ĐỨC GIANG : 1972 – 1973
( 1973 lên làm Giám đốc Sở Học Chánh Khánh Hòa)
6. Thầy NGUYỄN THÚC THÂM : 1973 - 1975
( Làm Giám Học từ 1964 – 1973)

C. CƠ SỞ VẬT CHẤT NHÀ TRƯỜNG ĐẾN 2/1975:
     Trong giai đoạn 1952  1975, cơ sở vật chất nhà trường có nhiều thay đổi về quy mô và số lượng. Đến tháng 02 / 1975 cơ sở vật chất nhà trường tổng quát như sau:
1. Dãy lầu 2 tầng dọc đường Lý Tự Trọng ngày nay: 23 phòng học, nhà Giám Học, phòng Giám Hiệu, phòng Tổng Giám Thị, phòng Hiệu Trưởng, phòng giáo viên, Văn phòng, phòng Giám thị, nhà để xe.
2. Dọc đường Hoàng Hoa Thám ngày nay: nhà Hiệu trưởng, nhà Tổng Giám Thị, 
nhà công vụ giáo viên.
3. Dọc đường Đinh Tiên Hoàng ngày nay: khu thể dục thể thao, vườn trống.
4. Dọc đường Ngyễn Chánh ngày nay: hội trường của hôi phụ huynh ngày nay là 4 nhà giáo viên, còn lại là khu dân chiếm.
5. Bên trong: Hội trường, thư viện, phòng đọc; phòng thí nghiệm; 2 phòng ốc đảo; khu 6 phòng trệt; nhà chơi; vườn dương.
6. Bên ngoài: Tường rào bao quanh đường Lý Tự Trọng và Đinh Tiên Hoàng ngày nay.
Về cơ bản cơ sở vật chất này tồn tại đến năm 1999 – 2000 mới có sự thay đổi lớn.

D. QUY MÔ PHÒNG LỚP:

• Đặc điểm: trường CII, CIII, nam nữ học chung
• Năm 1961-1962: thành lập trường nữ Trung học nhưng mãi đến 1967-1968 thì nữ Ban B ( Ban Toán) vẫn còn học bên Võ tánh.
• Bắt đầu năm học 1969 – 1970 danh xưng lớp từ lớp 6  lớp 12.
• Vào 1973 quy mô lớn nhất: Trên 30 phòng học, trên 3000 học sinh, trên 55 lớp, trên 65 giáo viên công nhân viên.

3. GIAI ĐOẠN 1975 - 1976: 
( Giai đoạn chuyển tiếp sau ngày giải phóng)

 Từ tháng 02 – 03 / 1975:
 Trường Võ tánh được sử dụng làm một trong những trung tâm tiếp cư cho đồng bào di chuyển từ tây Nguyên xuống.
 Vì thế thư viện, phòng thí nghiệm, hồ sơ sổ sách, một số bàn ghế bị phá hủy.
 Sau khi trung tâm tiếp cư giải tán, khung cảnh nhà trường như một bãi chiến trường.

 

 

 02/04/1975:
 Nha Trang được giải phóng. Mọi sinh hoạt trong nhà trường vẫn tiếp tục bình thường.
 Ban điều hành lâm thời được hình thành để ổn định tình hình học sinh và cơ sở vật chất bao gồm 3 thầy:
 Trưởng ban: Thầy ĐẶNG NHƯ ĐỨC – giáo viên Sử Địa Võ Tánh.
 Thầy PHAN VĂN ÔN – Tổng Giám Thị trường Võ Tánh
 Thầy TRẦN ĐĂNG LỘC – Phụ tá Tổng Giám Thị

 Từ tháng 04 / 1975 - 12 / 1975:
 Trường có tên TRƯỜNG CẤP III SỐ 2 NHA TRANG

 Từ tháng 04/ 1975  08 / 1975:
 Thầy ĐẶNG NHƯ ĐỨC làm trưởng ban điều hành, ổn định trường lớp.

 Từ tháng 09 / 1975  12 / 1975:
 Thầy VŨ VĂN VÂN làm hiệu trưởng năm học đầu tiên sau Giải phóng

 Thaùng 01 / 1976:
 Đổi tên trường thành trường PTTH LÝ TỰ TRỌNG
 Thầy NGUYỄN VĂN CHÂM làm hiệu trưởng

4. GIAI ĐOẠN 1976 - 2010: TRƯỜNG THPT LÝ TỰ TRỌNG DƯỚI SỰ LÃNH ĐẠO CỦA 4 THẦY HIỆU TRƯỞNG:

1. Thầy - NGUYỄN VĂN CHÂM - 01 / 1976  01 / 1981 
2. Thầy - NGUYỄN VIẾT CẢNH - 02 / 1981  08 / 1994
+ Làm Hiệu Phó: 1976 -1981
+ Từ 1984 thầy làm Phó Giám Đốc Sở Giáo Dục Khánh Hòa
3. Thầy - NGUYỄN THANH BÌNH - 1994  11 / 2006
+ Hiệu Phó: 1986 - 1994
4. Thầy - LÊ VĂN ĐỨC - 11 / 2006 – 2010

B. CƠ SỞ VẬT CHẤT - MỐC THỜI GIAN XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN:

     Trong giai đoạn 1976 – 2010, nhất là từ 1999 – 2000 cơ sở vật chất nhà trường có nhiều thay đổi, phát triển về quy mô và chất lượng cơ sở dạy học.
1. Phòng thí nghiệm mới nối tiếp khu vực 6 phòng ( 1982 – 1983), phòng thí nghiệm cũ làm xưởng mộc.
2. Xây tường ngăn khu tập thể Hoàng Hoa Thám (1999), khu dân cư Nguyễn Chánh (1991)
3. Năm 1999-2000 đường Lý Tự Trọng mở rộng là thời điểm hình thành nhiều cơ sở vật chất mới mặc dù diện tích trường có nhỏ lại:
 Xây dựng dãy lầu 3 tầng.
 Thư viện, phòng đọc, phòng 27, văn phòng Đoàn.
 Dãy lầu Ban Giám Hiệu, nhà để xe giáo viên dọc đường Đinh Tiên Hoàng.
 Xây dựng phòng 14, 15 lầu, phòng Hành Chánh (2004): khép kín dãy lầu dọc đường Lý Tự Trọng với công lao rất to lớn của Hội phụ huynh học sinh.

 

 

 Nhà Đa năng, sân bóng, lấy lại khu xưởng thiết bị.
 Xây tường rào, sửa cổng trường đường Lý Tự Trọng, mở cổng đường Đinh Tiên Hoàng.
 Khu vực nhà xe của học sinh, sân xi măng.
 Phụ huynh xây dựng hòn non bộ.
 Tu sửa mái ngói dãy cũ, đóng trần mới, bục giảng, quét vôi, sửa cửa, đèn, quạt phòng học ….
 Sân bóng mini, sân khấu lộ thiên (2008).
 Hệ thống cây xanh, điện, thoát nước, nước uống, nước tưới, phòng vệ sinh … làm mới.

     Đây là giai đoạn làm biến đổi bề mặt ngoài và khu phía sau dãy lầu 2 tầng cũ: vườn dương, vườn dừa, nhà xưởng, phòng thí nghiệm, khu 6 phòng, khu 2 phòng, khu nhà chơi, thư viện, hội trường … không còn nữa. Phía sau dãy cũ là cơ sở vật chất mới hoàn toàn, mở rộng hoành tráng, thoáng mát.

Tóm lại:

• Giai đoạn 1976 – 1991: Ổn định, đặt nền móng cho nền giáo dục xã hội chủ nghĩa.
• Giai đoạn 1991 – 1994: Nhà trường đi váo nề nếp kỷ cương trong giảng dạy và học tập. Đạt thành quả nhất định trong sự nghiệp giáo dục. Có tầm nhìn nối liền 2 thế hệ giáo viên, học sinh qua kỷ niệm 45 năm chung một mái trường.
• Giai đoạn 1994 – 2006: 
+ Tiếp tục phát huy hơn nữa nề nếp kỷ cương trong học tập và giảng dạy đạt thành tích trong giảng dạy và học tập - lá cờ đầu của tỉnh nhà.
+ Giai đoạn vươn lên tầm cao trong sự phối hợp giáo dục giữa nhà trường và hội phụ huynh học sinh.
+ Giai đoạn cơ sở vật chất nhà trường mở rộng nhât, khang trang nhất.
+ hệ thống cây xanh được hình thành.
• Giai đoạn 2006 – 2010: Cơ sở vật chất tiếp tục được nâng cao hiện đại hơn để phục vụ cho giảng dạy và học tập:
+ Tất cả phòng học trang bị bảng từ.
+ Đầy đủ phòng bộ môn, đồ dùng dạy học phong phú: Phòng Sử Địa, Toán, Lý, Hóa, Sinh.
+ Phòng học sạch sẽ khang trang với 6 đèn và 4 quạt.
+ Hơn 88 máy vi tính:
- Phòng vi tính 1: 24 máy - Phòng vi tính 2: 24 máy
- Phòng vi tính 3: 25 máy - Phòng vi tính giáo viên: 7 máy
- Phòng kế toán: 1 máy - Phòng hành chính: 1 máy
- Phòng hiệu trưởng: 2 máy - Phòng hiệu phó: 2 máy
- Phòng công đoàn: 1 máy - Phòng đoàn: 1 máy
- Phòng thư viện: 1 máy

+ 2 phòng máy chiếu
+ 3 máy photo hiện đại …

 

 

C. QUY MÔ TRONG LỚP:

 Từ năm 1976 trường THPT Lý Tự Trọng chỉ còn là trường cấp III ( ớp 10,11,12) nam nữ học sinh học chung.
 Đến tháng 02 / 2010, trường có 31 phòng học, 5 phòng bộ môn, 4 phòng vi tính, 2 phòng máy chiếu, 9 tổ chuyên môn, 50 lớp, 2175 học sinh, 126 giáo viên công nhân viên.

@ @ @

Trên 60 năm hình thành, phát triển với 5 danh xưng khác nhau, sống trên 2 địa chỉ, con thuyền Trung học Nha Trang – Võ Tánh – Lý Tự Trọng bất chấp trước mọi sóng gió vẫn lướt sóng ra khơi đưa khách tiếp tục khám phá “ lục địa tri thức” dưới sự điều khiển của 13 “vị thuyền trưởng”, tích lũy được nhiều truyền thống tốt đẹp:
• Truyền thống dạy tốt - học tốt.
• Truyền thống yêu nước.
• Truyền thống đoàn kết.
• Truyền thống tôn sư trọng đạo.
• Truyền thống về hoạt động văn nghệ, thể dục, thể thao.
• Truyền thống thực hiện xã hội chủ nghĩa.

     Trong quá trình xây dựng, phát triển về cơ sở vật chất nhà trường, ngoài vai trò của nhà nước, chính quyền đại phương còn có sự đóng góp to lớn của phụ huynh học sinh, của các mạnh thường quân, các công ty, xí nghiệp, học sinh cũ qua các thời kỳ. Vì vậy thật là thiếu sót nếu bỏ qua truyền thống ấy trong quá trình phát triển của nhà trường.

THAY CHO LỜI KẾT

1. Qua quá trình hình thành và phát triển, có thể rút ra các mốc thời gian ghi nhớ như sau:
 1947: Trường hình thành và có tên bằng tiếng Pháp: Collège de Nha Trang 
(ở trường Nguyễn Văn Trỗi ngày nay)
 1950: Trường có tên bằng tiếng Việt Nam: Trường Trung Học Nha Trang
 1952: Khánh thành trường mới tại vị trí Lý Tự Trọng ngày nay; trường đổi tên thành Trường Trung Học Võ Tánh Nha Trang.
 1975: Trường CIII số 2 Nha Trang.
 1976: Trường THPT Lý Tự Trọng
Trên cơ sở đó, việc tổ chức lễ kỷ niệm, tùy theo chủ đề và ý tưởng đề ra phải phù hợp với mốc thời gian hợp lý.

2. Trải qua thời gian, cơ sở vật chất của nhà trường từng bước thay đổi lớn, ngày càng khang trang, hiện đại hơn nhằm đáp ứng sự nghiệp trồng người. Vì vậy, mong rằng chớ nuối tiếc cái cũ và cũng chớ thỏa mãn cái mới. Cơ sở vật chất nhà trường ngày càng thay đổi nhung cùng chung một hướng là làm sao đáp ứng yêu cầu phát triển của sự nghiệp giáo dục. Qua nhiều thế hệ dù đã trưởng thành hay còn đang học; dù đang ở trong nước hay định cư ở nước ngoài; dù giám đốc hay chỉ là công nhân, bộ đội ...thì không những biết trân trọng những gì đã có, tri ân những người có công tạo dựng mà còn phải có bổn phận và trách nhiệm làm cho trường phát triển hơn, hoành tráng hơn, sạch đẹp hơn.

Phó Chủ tịch Công Đoàn Nguyễn Thị Ngọc Hân