Những ngày vui đẹp xa xưa

     Những hình ảnh kỷ niệm về trường Trung học Nha Trang – Võ Tánh vẫn còn sống động trong kí ức tôi mặc dầu thời gian cách đây 45 năm. Lúc đó, tôi là một học sinh lớp nhì (lớp 4 ) của Trường Nam tiểu học Nha Trang. Trong giờ chơi, tôi vẫn thường đến khu của các anh chị bậc trung học, lúc đó còn tọa lạc tại trường Nam tiểu học. Tôi hâm mộ các anh chị đó lắm, trong số đó tôi vẫn còn nhớ có anh tên Hổ ở trong Ban nhạc nhà trường. Tôi ao ước lớn lên được như các anh chị đó, bởi vì các anh chị ấy học giỏi quá. Tôi thường nhủ thầm như vậy.
     Rồi thời gian cũng đến với tôi. Năm 1953, tôi thi đậu hạng 16 vào lớp đệ nhất, tôi nhớ rõ lắm, anh bạn Võ Đình Thâm đứng hạng 1 trong kì thi tuyển này trong số khoảng 200 học sinh được tuyển vào đệ nhất năm đó. Đối với tôi, trong suốt 20 năm theo học từ lớp đồng ấu của tiểu học cho tới cấp tiến sĩ sau bậc đại học, thời gian 2 năm ở đệ nhất và đệ lục là vui đẹp nhất trong cuộc đời. Trong suốt thời gian 4 năm của trung học đệ nhất cấp, bao giờ tôi cũng bị xếp học ở lớp A, bởi vì vừa nhỏ tuổi vừa nhỏ con, bao giờ nhà trường cũng xếp tôi vào lớp các chị để đủ số 50 học sinh cho mỗi lớp, vì vậy bọn con trai chúng tôi bao giờ cũng thiểu số và xem như đàn em. Bao giờ tôi cũng bị xếp ngồi dãy bàn đầu của nhóm con trai, nhưng sau lưng các chị. Nhìn lên bảng, nhìn lên thầy, tôi bắt buộc phải nhìn xen qua các mái tóc của các chị, vì vậy, cho tới bây giờ tôi vẫn còn nhớ rõ từng mái tóc của mỗi chị ngồi trong lớp. Chẳng hạn chị Đoàn Thị Vân Anh có mái tóc ngắn bôm bê, ngược lại chị Hồng có mái tóc đen dài lê thê chấm gót. Tôi thuộc loại học trò hiền và ngoan ngoãn. Tuy nhiên, tôi vẫn bị hàm oan nhiều lần vì vị trí ngồi của tôi trong lớp. Các bạn trai ngồi những dãy bàn sau tôi thường hay khiều guốc của các chị hay bắn dây thun, và các chị thường nghi bàn chúng tôi. Một lần, nguyên cả bàn chúng tôi bị thầy Võ Thành Điểm phạt oan. Là học sinh Võ Tánh, không mấy ai không có ít nhiều kỉ niệm với thầy Điểm. Thầy bản tính rất hiền hòa của người Gò Công, nhưng ở chức vụ giám thị thầy phải làm bộ nộ nạc ra oai. Thầy là một học sĩ có tài, tôi mê tài vẽ của thầy, nhưng tôi không bao giờ được tới điểm trung bình cho môn hội họa do thầy dạy. Thầy có một trí nhớ độc đáo, thầy nhớ từng tên của gần 500 học sinh nguyên trường thời đó. Ngạc nhiên hơn nữa, trong một lần đến thăm trường sau hơn 10 năm rời trường. Mặc dầu chỉ làm giám thị và dạy môn hội họa, thầy vẫn thường khoe là ông tướng này, ông đại tá nọ là học trò của thầy. Nếu thầy còn sống, chắc thầy sẽ còn hãnh diện hơn nữa về hàng chục học trò của thầy đang nổi danh ở hải ngoại.
Vào thời đó, chúng tôi rất ngưỡng mộ thầy Lê Văn Đào, dạy Anh Văn. Thầy trẻ, cao lớn, đẹp trai. Bọn học sinh chúng tôi thời đó đồn rằng thầy đã từng đi Hồng Kông. Không như bây giờ ai cũng có thân nhân ở nước ngoài, vào thời đó được đi nước ngoài là một điều rất hiếm hoi và đáng khâm phục. Thầy Đào là thần tượng của tôi. Tôi có vài kỉ niệm với thầy. Hồi đó dạy Anh Văn trong quyển Anglais Vivant cho lớp đệ nhất. Một lần thầy dạy về chữ “fair hair”, chúng tôi hiểu nghĩa của từng chữ nhưng không hình dung được fair hair như thế nào. Một đứa trong số chúng tôi hỏi thầy. Từ trên bàn thầy nhìn xuống cả lớp, bắt đầu từ các chị rồi mắt thầy bắt đầu lướt đến bọn trai chúng tôi. Thầy từ từ đi xuống, ngắm tóc từng đứa, thầy không dám rờ lên mái tóc thực sự fair hair của các chị, thầy rờ mái tóc của tôi và anh Đạt rồi nói: “Tóc của Hồng và Đạt là fair hair đó”. Tôi hãnh diện lắm nhưng cũng bắt đầu từ đó các bạn trai của tôi thường xoa đầu tôi cho rối bù lên để chọc. Phải mấy chục năm sau, tôi mới biết thầy diễn dịch sai chữ fair hair, bởi vì khi tôi kể lại kỉ niệm này với các con tôi thì chúng nó cười ồ: “Tóc của ba mà fair hair hả, tóc cứng lổm chổm như brush đánh giày mà bảo là fair hair thì ngộ thật”. Trong một dịp khác, trong một bài nói về trò tiêu khiển thể thao của xứ Anh, trong đó có nói về xe hơi, máy bay, v.v… Thầy bắt mỗi đứa chúng tôi dịch một câu, đến lượt chị Phương Dung dịch một câu trong đó có chữ “cannot”. Vì vừa học Anh Văn mới vài tháng, chúng tôi biết “can” chứ chưa biết “cannot” nên chị Phương Dung liên tưởng đến xe hơi, máy bay bèn dịch chữ “cannot” là chiếc ca nô (ghe gắn máy) làm thầy cười lớn. Tôi vẫn còn nhớ nét mặt thầy với nụ cười hồn nhiên đó. Vào cuối năm đó, Bộ giáo dục ra lệnh bắt buộc hoặc học sinh ngữ Anh-Pháp, hoặc học cổ tự Hán văn. Không biết lúc đó tôi nghĩ sao, tôi chọn Hán văn, mặc dù tôi học khà Anh Văn với thầy Đào, điều này làm thấy ngạc nhiên không ít. Cũng may, nếu lúc đó học Hán văn, làm sao tôi có thể sống được trên đất nước Anh này. Sau này có dịp gặp lại thầy Đào, thầy vẫn còn nhắc đến sự lựa chọn ngộ nghĩnh của tôi.
     Nếu bây giờ tôi khá thành công trong nghiên cứu ngành vạn vật, vạn vật là môn tôi sợ nhất trong thời Trung học. Thú thật, tôi không thể nào nhớ nỗi con chó thuộc bộ nào, có mấy răng,… đại khái như vậy, thầy Bửu Cân dạy tôi môn đó. Tôi tôn sùng thầy và xem thầy vĩ đại như một nhà bác học, bởi vì thầy là tác giả quyển sách vạn vật duy nhất ở thời đó. Tôi tôn sùng thầy vì lời văn thầy viết rất “bác học”, tôi đọc không hiểu và không nhớ nổi đối với trí óc non nớt của tôi thời 12 tuổi. Thầy có một chứng bệnh nhảy mũi hắt xì. Thầy nhảy mũi hắt xì đầu trường thì cuối trường vẫn nghe. Mỗi khi nghe thấy hắt xì từ một lớp khác thì chúng tôi không theo dõi bài học mà lắng nghe và đếm thầy hắt xì, bởi vì khi quá 3 tiếng hắt xì là ngày hôm sau chúng tôi được nghĩ học. Vào lớp, thầy giảng chuyện đời hơn giảng bài, bởi vì bài đó đã có sẵn trong sách của thầy. Thầy thường mắng chúng tôi ngu ngốc. Mà ngu ngốc thật. Chẳng hạn, trong một bài Vật lí học về nước mưa, thằng bạn tôi viết lên bảng thành nước mía, cả lớp viết theo là nước mía. Trong một dịp khác, thằng bạn tôi lên trả bài cho thầy, nó đọc “rắn là loài bò” thay vì rắn là loài bò sát. Vì vậy mà thầy mắng chúng tôi, thầy bảo là học hiểu chứ không học thuộc lòng. Nhưng làm sao chúng tôi hiểu được vì lời văn bác học của thầy, và vì vậy không bao giờ tôi có được tới điểm trung bình của thầy. Một lần thầy mắng tôi ngu ngốc. Chẳng là, đêm hôm trước các bạn của anh tôi tụ họp ở nhà tôi bàn về trường Quốc Gia Hành Chánh vừa được thành lập. Hôm đó, thầy Bửu Cân mắng cả lớp là ngu, và bảo chúng tôi là phải học ở “trường đời” mới thành công sau này chứ không phải học nhồi sọ từ trong sách. Thầy hỏi thêm “Có trường dạy làm tổng thống không?”. Không suy nghĩ, tôi vọt miệng trả lời “có chứ”, dù nho nhỏ nhưng thầy vẫn nghe được. Thầy trừng mắt nhìn tôi hỏi “Đâu, trường nào đào tạo tổng thống?” Tôi đứng lên, khoanh tay, trả lời “Dạ thầy, trường Quốc Gia Hành Chánh”. Thầy hỏi ngược lại: “Kể tên ai xuất thân từ trường Quốc Gia Hành Chánh làm tổng thống?”. Dĩ nhiên tôi ấm ớ vì trường vừa mở làm sao có người ra làm tổng thống được. Một lần khác thầy dạy về trái thận và sự bài tiết. Thầy giảng là quả thận lọc máu, nước tiểu chạy tới bàng quang rồi…Thầy vừa nói tới đây, tôi nói hớt theo thầy, tuy rất nhỏ nhưng cả lớp đều nghe “rồi chạy xuống robinet”. Cả lớp cười rộ lên, các chị cũng cười và đỏ mặt. Thầy giận nghiêm sắc mặt, nhưng không phạt tôi, vì dù sao tôi cũng có lí.
      Thầy Nguyễn Văn Mỹ dạy chúng tôi môn Hóa học. Thầy rất trẻ, khoảng 21 – 22 tuổi, thầy rất e thẹn, và càng e thẹn tay chân thầy không thể giữ yên được. Thầy thường nhảy lên bục, nhảy xuống bục, tay viết nguệch ngoạc lên bảng rồi lâu vội, và hễ các chị cười thì thầy càng quýnh lên, mặt đỏ như trái gấc. Vì vậy mà thầy bị các anh chị trong lớp chọc. Tuy nhiên, thầy rất hào hoa. Cuối năm học, thầy dẫn cả lớp ra bãi biển, thuê thợ chụp hình chụp chung cả lớp, phân phát học sinh mỗi đứa mỗi tấm làm kỉ niệm. Nhờ vây, tôi mới có được tấm hình duy nhất của cả lớp mà tôi còn giữ tới ngày nay.
      Hồi đó, trong lớp có chị Lưu Thị Mỹ Phương là được mang tiếng hoa khôi. Tóc chị dài, chị đẹp, dịu hiền và lại học giỏi. Chị được các bậc đàn anh ở lớp đệ tứ (lớp 9) đặt tên là “Beau carré”. Các anh ấy theo chị lắm, nhưng không có cách nào để được gần chị. Tôi là người ngồi sau lưng chị. Vì vậy các anh ở lớp đệ tứ thường nhờ tôi ném thơ của các anh vào hộc bàn của chị, rồi sau đó tường trình phản ứng của chị lại cho các anh. Chị không làm sao hiểu nổi bằng cách nào các thơ này lọt vào hộc bàn, đôi khi còn kẹp vào sách vở của chị. Bí mật đó được giữ kín hơn mười mấy năm. Đầu thập niên 70, tôi gặp lại chị Mỹ Phương ở Cần Thơ, tôi đã lả giảng viên Đại học Cần Thơ, còn chị thì trở lại cuộc đởi sinh viên ở bậc cử nhân. Tôi tiết lộ cho chị biết rằng chính tôi là thủ phạm mang thơ bỏ vào hộc bàn chị. Chị cười hãnh diện và cú lên đầu tôi. Chị vẫn còn xem tôi như một bạn học nhỏ thời đệ nhất.
      Vào thời đó các anh chị đầu đàn ở lớp đệ tứ rất hoạt động. Trưởng đoàn của trường lúc bấy giờ là anh Viện. Anh tổ chức buổi cắm trại tại Suối Dầu, bên cạnh mộ bác sĩ Yersin. Các anh đứng ra tổ chức buổi truy niệm tại chỗ nói về công đức của bác sĩ Yersin. Biết đâu chính từ buổi lễ kỉ niệm nhà bác học ở địa phương Nha Trang đã hun đúc tinh thần khoa học của đám học sinh thời đó và đã ảnh hưởng đến các cuộc nghiên cứu ngày nay? Các anh cũng tổ chức cắm trại ở rừng dừa Hiệp Mỹ, Ba Ngòi. Về mặt văn nghệ, các anh chị đã tổ chức nhiều buổi văn nghệ gây quỹ cho nhà trường. Tôi nhớ rõ ban hợp ca lớp đệ tứ gồm nhiều anh chị, trong số đó tôi nhớ là có anh Tâm, chị Ngọc Trai, chị Dạ Khê….và bài hát nổi tiếng lúc đó là “Ra đi khi trời vừa sáng”. Nhóm đệ thất chúng tôi được anh Trần Huỳnh Châu tập và trình diễn “ Vũ điệu Hải Quân” trong đó tôi đứng múa ở hàng đầu.
      Tôi rời trường vào năm 1960. Cũng từ đó, tôi ít có dịp về Nha Trang, nếu có chỉ thoáng 1 tuần rồi lại ra đi. Tôi ít có dịp gặp lại thầy cũ và bạn bè. Tôi đi du học vào những năm đầu của thập niên 70, và rời xa Việt Nam từ đó. Tôi không có được nhiều tin tức về bạn bè và thầy cũ. Cách đây hơn 10 năm, tôi đến thăm một người quen gốc Nha Trang ở Paris. Trong dịp này cũng có một cặp vợ chồng ở gần đó cũng tới thăm. Thoạt gặp, tôi mang máng như gặp anh ta ở đâu đó mà tôi không thể nào nhớ ra được. Sau khi được biết anh cũng gốc Nha Trang, tôi hỏi “Hồi ở Nha Trang anh học trường nào?” Anh trả lời là trường Võ Tánh, nên tôi đinh ninh rằng anh này học lớp sau tôi và như vậy thế nào cũng biết các anh tôi đang dạy tại trường Võ tánh. Tôi hỏi tới “Như vậy, anh biết anh Trần Văn Nhơn dạy ở Võ Tánh không?” Anh ta trả lời: “Biết chớ, tôi là bạn học của Trần Đăng Hồng, em của Trần Đăng Nhơn, Trần Đăng Lộc mà”. Tôi sững sờ vôi thôi “Tôi là Trần Đăng Hồng đây mà !” Anh ta nói “Tôi là L.H.”. Chúng tôi ôm nhau và cùng khóc. Chúng tôi đã học chung một lớp. Dĩ nhiên tôi vẫn nhớ hình ảnh L.H., nhưng hình ảnh hồi tuổi 12 của anh. Thời gian hơn 30 năm đã làm thay đổi anh và tôi, chúng tôi đã lớn, tóc đã hoa râm, cộng thêm nét ưu tư, khắc khoải của thời đại, chúng tôi đã không nhận ra nhau ở phút ban đầu gặp gỡ. Tôi khóc, tôi khóc cho anh và khóc cho tôi, khóc cho cuộc đời lưu lạc ở xứ người, tưởng chừng như không bao giờ có thể gặp lại người thân, khóc cho những ngày thơ ấu đẹp đẽ xa xưa không thể tìm lại, khóc về mảnh đất thân thương, về mái nhà thân thuộc, về một mái trường đã dạy tôi nên người, mà giờ đây sao cách xa vời vợi.

Tiến sĩ Trần Đăng Hồng

                                                                           Viện Đại học Reading

                                                                                Reading, Anh quốc.

Tháng 10 năm 1994